Nghiên cứu kinh nghiệm châu Âu về khai thác bền vững di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch
Trong khuôn khổ triển khai nhiệm vụ khoa học cấp Bộ 2023-2024 do PGS.TS. Đặng Thị Phương Hoa làm chủ nhiệm, đề tài “Khai thác bền vững di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch: Kinh nghiệm của một số nước châu Âu và gợi mở cho Việt Nam” đã cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn quan trọng về vai trò của di sản văn hóa trong phát triển du lịch bền vững.
Kết quả nghiên cứu
cho thấy, di sản văn hóa (DSVH) là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sức hấp
dẫn của các điểm đến du lịch. Tại châu Âu, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã khẳng
định tác động tích cực của di sản văn hóa vật thể đối với khả năng thu hút
khách du lịch quốc tế. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch văn hóa từ những
năm 1980, di sản văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực đặc biệt,
góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến và thúc đẩy phát triển kinh
tế địa phương.
Qua khảo cứu kinh nghiệm của các quốc gia châu
Âu, đề tài chỉ ra rằng việc bảo tồn và khai thác di sản văn hóa luôn được đặt
trong một chiến lược phát triển dài hạn. Châu Âu nói chung, từng quốc
gia châu Âu nói riêng, hầu hết đều có chính sách nghiêm ngặt trong gìn giữ và
khai thác DSVH thông qua du lịch, bảo tồn nghiêm túc và khai thác bền vững di sản
phục vụ du lịch một cách có chiến lược. Để đảm bảo các hoạt động nói trên, các
nước châu Âu đều coi việc bảo tồn DSVH hết sức nghiêm túc và có chiến lược cụ
thể. Châu Âu dự trù ngân sách thường niên khá lớn cho việc này. Họ quy định chi
tiết về quy tắc ứng xử với di sản mà mỗi công dân phải nắm rõ; ban hành văn bản
kiểm soát nghiêm ngặt tác động về sức chứa, loại hình hoạt động và cân bằng nhịp
sống của hệ sinh thái tại DSVH vật thể. Với DSVH phi vật thể, nhiều nước ở châu
Âu khuyến khích cộng đồng địa phương chủ động cùng tham gia quản lý, hiến kế để
dàn dựng, biểu diễn, gắn với lợi ích của cộng đồng địa phương.
Trên
cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận về di sản văn hóa, phân loại di sản văn
hóa và di sản thế giới, đề tài khẳng định rằng bên cạnh giá trị về văn hóa,
giáo dục và gìn giữ bản sắc dân tộc, di sản văn hóa còn là nguồn tài nguyên đặc
biệt quan trọng đối với phát triển du lịch. Vận dụng các lý thuyết về vốn văn
hóa, du lịch bền vững và các bên liên quan, nhóm nghiên cứu đã xác định hai
nhóm yếu tố ảnh hưởng đến khai thác bền vững di sản văn hóa, bao gồm các yếu tố
chủ quan và khách quan, trong đó nhấn mạnh vai trò của năng lực lãnh đạo địa
phương và chất lượng thể chế quản lý. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất ba nhóm tiêu
chí đánh giá mức độ khai thác bền vững di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch.
Nghiên
cứu đi sâu phân tích thực trạng khai thác di sản văn hóa tại ba quốc gia tiêu
biểu là Ý, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Từ
thực hiện cam kết với UNESCO trong khai thác DSVH thế giới đến thực thi các
chính sách, quy định của từng quốc gia đối với các DSVH cấp quốc gia. Nhìn
chung, hệ thống DSVH đồ sộ ở 3 quốc gia nổi bật về số lượng DSVH thế giới và di
tích quốc gia đều chia thành 2 mảng di sản: một số đạt tiêu chí DSVH thế giới
và mảng còn lại mang đặc thù quốc gia và địa phương/vùng. Số liệu và dữ liệu
minh chứng của các DSVH thế giới ở từng quốc gia đều tuân thủ báo cáo của
UNESCO nên dễ tiếp cận hơn. Về mức độ tuân thủ và đáp ứng nguyên tắc bền vững của
UNESCO trong khai thác DSVH phục vụ phát triển du lịch tại 3 quốc gia này, theo
tiêu chí của nhóm tác giả đề tài, Ý đạt đánh giá cao nhất, Hy Lạp đạt ở mức có
dấu hiệu bền vững, Thổ Nhĩ Kỳ có dấu hiệu bền vững ở 2/7 tiêu chí.
Từ
thực tiễn khai thác DSVH phục vụ phát triển du lịch ở Ý, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ,
các tác giả đã phân tích một số bài học nhìn từ lý thuyết và quan điểm bền vững
về phát triển du lịch và bền vững về bảo vệ, phục hồi DSVH. Đề tài rất nhấn mạnh
vai trò của nguồn lực tài chính và việc đảm bảo sự tham gia của các bên, đặc biệt
cộng đồng sở hữu DSVH. Các bài học về đảm bảo tài chính, giải pháp sáng tạo khắc
phục quá tải du khách, sự tham gia của các thế hệ cộng đồng, nhất là thanh niên
trong sáng tạo các loại hình du lịch xanh, điều hướng hành vi của du khách đến
Ý, sử dụng công nghệ và các nền tảng ứng dụng để quảng bá và minh bạch các quy
định quản lý DSVH của Ý, kinh nghiệm tốt về quy hoạch vùng đệm DSVH và tổ chức
huy động vốn bằng hình thức đối tác công-tư cho phục hồi DSVH của Hy Lạp, kinh
nghiệm không tốt của Thổ Nhĩ Kỳ trong quyền tiếp cận DSVH và thay đổi công năng
DSVH… đưa đến phát hiện rằng, mặc dù cùng một khung khổ thể chế của UNESCO,
nhưng cơ chế vận hành của 3 quốc gia là khác nhau. Với việc minh bạch chính
sách và dân chủ trong tiếp cận DSVH thế giới của Ý, ý thức đối với DSVH của người
dân Ý đồng phổ đều hơn ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ý thức, nhận thức tốt phổ cập dẫn đến năng
lực quản trị du lịch bền vững hơn, khai thác DSVH bền vững hơn.
Những
kết quả nghiên cứu của đề tài không chỉ góp phần bổ sung cơ sở lý luận về khai
thác bền vững di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch mà còn cung cấp những gợi
mở chính sách thiết thực cho Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh phát triển du lịch
gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa theo hướng bền vững./.