KHUNG CHỈ SỐ ĐA TẦNG CHO PHÂN TÍCH TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC VỀ QUỐC PHÒNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU
TS. Nghiêm Tuấn Hùng
Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Tóm tắt: Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị gia tăng và nhu cầu giảm phụ thuộc vào các cường quốc, EU đặt mục tiêu đạt mức tự chủ lớn hơn trong quốc phòng, song vẫn chưa có thước đo rõ ràng để đánh giá tiến độ. Dựa trên lý thuyết về chỉ số tổng hợp (composite indices) và hướng dẫn của OECD (2008), bài viết xây dựng một khung chỉ số đa tầng (Strategic Defense Autonomy Index - SDAI) gồm ba tầng: (1) chỉ số tổng hợp; (2) bốn trụ cột chính; (3) các chỉ báo chi tiết, nhằm đo lường mức độ tự chủ chiến lược quốc phòng của Liên minh châu Âu (EU). Mặc dù còn hạn chế do thiếu dữ liệu quốc phòng công khai và tính phức tạp của các khái niệm, nhưng trong tương lai, việc cập nhật dữ liệu toàn diện và kiểm định độ nhạy với các trọng số khác nhau sẽ giúp SDAI trở thành một công cụ chuẩn mực để đánh giá năng lực tự chủ quốc phòng của EU.
Từ khóa: chỉ số tổng hợp, tự chủ chiến lược, quốc phòng, EU
Abstract: In the context of increasing geopolitical competition and the need to reduce dependence on major powers, the EU aims to achieve greater autonomy in defense, but there are still no clear metrics to assess progress. Based on the theory of composite indices and the OECD guidelines (2008), this paper constructs a multi-tiered Strategic Defense Autonomy Index (SDAI) framework consisting of three tiers: (1) composite index; (2) four main pillars; (3) detailed indicators, to measure the level of strategic defense autonomy of the European Union (EU). Despite its limitations due to a lack of publicly available defense data and the complexity of the concept, in the future, comprehensive data updates and sensitivity testing with different weightings will help SDAI become a benchmark tool for assessing the EU's defense autonomy.
Keywords: composite index, strategic autonomy, defense, EU
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TẬP HỢP LỰC LƯỢNGTRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ
Nguyễn Thị Như Quỳnh
Chuyên gia độc lập
Tóm tắt: Bài viết tập trung xây dựng cơ sở lý luận cho nghiên cứu các cơ chế tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế đương đại. Trước hết, bài làm rõ và phân biệt ba khái niệm: “cơ chế”, “tập hợp lực lượng” và “cơ chế tập hợp lực lượng”, qua đó xác định tập hợp lực lượng như một quá trình phối hợp chính sách, nguồn lực và hành động, còn cơ chế tập hợp lực lượng là cách thức tổ chức và vận hành quá trình đó. Trên nền tảng các tiếp cận Hiện thực, Tự do và Kiến tạo, bài lý giải những nguyên nhân và điều kiện hình thành tập hợp lực lượng, kết hợp giữa mối đe dọa, lợi ích chung, thể chế quốc tế, bản sắc chiến lược và nhận thức của giới tinh hoa. Từ đó, tác giả xác định bốn hình thức cơ bản của cơ chế tập hợp lực lượng: đồng minh, liên minh, liên kết và đối tác chiến lược, đặt chúng trên một phổ liên tục về mức độ ràng buộc, thể chế hóa và cam kết. Cuối cùng, bài phân tích tác động của các cơ chế tập hợp lực lượng đối với hành vi quốc gia, cấu trúc quyền lực khu vực, năng lực răn đe, quản trị rủi ro và ảnh hưởng mềm, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của tập hợp lực lượng trong hoạch định chính sách và định hình trật tự khu vực, toàn cầu hiện nay.
Từ khóa: lý luận, cơ chế, tập hợp lực lượng, quan hệ quốc tế
Abstract: The article develops a theoretical foundation for studying alignment mechanisms in contemporary international relations. It first clarifies and distinguishes three core concepts - “mechanism”, “alignment” and “alignment mechanism”- thereby defining alignment as a process of coordinating policies, resources and actions, while alignment mechanisms are the organizational and operational arrangements of that process. Drawing on Realist, Liberal and Constructivist approaches, the article explains the causes and conditions of alignment, combining threat perception, common interests, international institutions, strategic identity and elite perceptions. It then identifies four basic forms of alignment mechanisms - alliances, coalitions, linkages and strategic partnerships - placing them on a continuum of bindingness, institutionalization and commitment. Finally, the article analyses how alignment mechanisms affect state behavior, regional power structures, deterrence and risk management capacities, as well as soft power and strategic identity, thereby underscoring the central role of alignment in contemporary policy-making and in shaping regional and global order.
Keywords: theoretical framework, mechanism, alignment, international relations
HỢP TÁC VÀ CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢCTRONG QUAN HỆ MỸ - EU (2022-2024)
Võ Hải Minh
Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Tóm tắt: Bài viết phân tích sự chuyển đổi của quan hệ Mỹ ‑ EU từ mô hình đồng minh an ninh truyền thống sang trạng thái “vừa hợp tác, vừa cạnh tranh” (coopetition) trong giai đoạn 2022-2024. Dựa trên ba lăng kính Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do thể chế và địa‑kinh tế, nghiên cứu làm rõ cách các cú sốc địa chính trị gần đây - chiến tranh Nga‑Ukraine, Đạo luật Giảm lạm phát (IRA), xung đột Gaza và khủng hoảng vận tải ở Biển Đỏ - vừa củng cố trục hợp tác an ninh, vừa đào sâu trục cạnh tranh kinh tế ‑ công nghệ trong quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra rằng trạng thái “vừa hợp tác, vừa cạnh tranh” Mỹ ‑ EU tạo ra cả cơ hội lẫn ràng buộc mới đối với các quốc gia tầm trung trong việc tận dụng cạnh tranh để thu hút đầu tư, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, đồng thời duy trì đường lối đối ngoại cân bằng, độc lập và tự chủ.
Từ khóa: hợp tác, cạnh tranh, Mỹ, EU, tự chủ chiến lược
Abstract: This article analyzes the transformation of US-EU relations from a traditional security alliance model to a state of "cooperation and competition" during the period 2022-2024. Drawing on three lenses - Realism, Institutional Liberalism, and Geoeconomics—this study clarifies how recent geopolitical shocks - the Russia - Ukraine war, the Inflation Reduction Act (IRA), the Gaza conflict, and the Red Sea shipping crisis - have both strengthened the axis of security cooperation and deepened the axis of economic and technological competition in transatlantic relations. Based on this, the article points out that the "cooperation and competition" between the US and the EU creates both new opportunities and constraints for middle-sized countries in leveraging competition to attract investment, restructure supply chains, and maintain a balanced, independent, and autonomous foreign policy.
Keywords: cooperation, competition, US, EU, strategic autonomy
HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGATRONG BỐI CẢNH MỚI: THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG
Dương Thái Hậu
Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Tóm tắt: Việt Nam và Liên bang Nga chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 30/1/1950. Từ đó đến nay, mặc dù còn một số khó khăn, hạn chế, song quan hệ song phương Việt Nam - Nga đã có sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Trên lĩnh vực kinh tế, hợp tác giữa hai nước đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong nhiều năm qua, tuy nhiên, xung đột Nga - Ukraine từ năm 2022 đến nay khiến hợp tác trong lĩnh vực này chịu nhiều tác động không thuận lợi. Bài viết phân tích những nguyên nhân dẫn đến xu thế không tích cực này trong thời gian qua, đánh giá những thách thức và triển vọng trong những năm tiếp theo, từ đó đề xuất một số giải pháp đối với Việt Nam để thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia lên một tầm cao mới, phù hợp với tinh thần đối tác chiến lược toàn diện.
Từ khoá: hợp tác kinh tế, thách thức, triển vọng, Việt Nam, Nga
Abstract: Vietnam and Russia officially established diplomatic relations on January 30th, 1950. Since then, despite some difficulties and limitations, Vietnam - Russia bilateral relations have developed strongly in many fields. In the economic field, cooperation between the two countries has developed strongly over the past years. However, the Russia - Ukraine conflict since 2022 has negatively impacted this area. The article analyzes the causes leading to this negative trend in recent times, assesses the challenges and prospects in the coming years, and proposes a number of solutions for Vietnam to promote economic cooperation between the two countries to a new level, in line with the spirit of comprehensive strategic partnership.
Keywords: economic cooperation, challenges, prospects, Vietnam, Russia
KINH TẾ SỐ CỦA MỸ VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
Nguyễn Thùy Dương
Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Tóm tắt: Trong vài thập kỷ qua, thế giới đã có một bước nhảy vọt vềcông nghệ với sự chuyển đổi mạnh mẽ sang áp dụng các công nghệ kỹ thuật sốvào nhiều khâu trong hoạt động kinh tế. Điều này đã giúp phát triển nền kinh tế số của các quốc gia, đặc biệt là quốc gia công nghệ hàng đầu như Mỹ. Cũng vì thế mà sự tăng trưởng của kinh tế Mỹ hiện nay và trong tương lai sẽ phụ thuộc nhiều vào sự thành công của kinh tế số. Qua phân tích cho thấy, khu vực kinh tế số của Mỹ đã đóng góp đáng kể trong tổng thể nền kinh tế nước này, nâng cao năng suất lao động, mở rộng thị trường việc làm và năng lực cạnh tranh dài hạn, với trọng tâm vào thương mại điện tử, công nghệ số lõi, trí tuệ nhân tạo. Bài viết phân tích các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của kinh tế số Mỹ, cũng như những thách thức nổi bật liên quan đến an ninh mạng, nguồn nhân lực, chuỗi cung ứng bán dẫn và năng lượng cho hạ tầng số, qua đó, rút ra một số hàm ý cho Việt Nam.
Từ khóa: kinh tế số, tăng trưởng, tiêu dùng, nhân tố thúc đẩy, Mỹ, Việt Nam
Abstract: Over the past few decades, the world has witnessed a major technological leap marked by a strong shift toward the application of digital technologies across many areas of economic activity. This transformation has driven the development of the digital economy in many countries, especially leading technology nations such as the United States. As a result, the current and future growth of the U.S. economy increasingly depends on the success of its digital economy. The analysis shows that the U.S. digital economy has made significant contributions to the overall national economy by improving labor productivity, expanding job markets, and strengthening long-term competitiveness, with a particular focus on e-commerce, core digital technologies, and artificial intelligence. The article examines the key drivers of the U.S. digital economy as well as major challenges related to cybersecurity, human resources, semiconductor supply chains, and energy for digital infrastructure, thereby drawing several policy implications for Vietnam.
Keywords: digital economy; growth; driving factors; US; Vietnam.
TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ ĐỨC: THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG
Trần Thị Khánh Hà
Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Phạm Trần Huyền Linh
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt: Nền kinh tế Đức được đánh giá là đang phải đối mặt với những thách thức cấu trúc nghiêm trọng và mang tính hệ thống, trong đó có ba vấn đề lớn là: mất đi nền tảng năng lượng giá rẻ từ nguồn cung của Nga; sự thay đổi vai trò của Trung Quốc từ đối tác thương mại chiến lược thành đối thủ cạnh tranh công nghệ; và sự suy giảm năng lực cạnh tranh quốc gia do hạ tầng lạc hậu, số hóa chậm trễ và đầu tư thấp kéo dài. Sự suy yếu của kinh tế Đức không phải là hiện tượng chu kỳ ngắn hạn, mà là kết quả của những điểm nghẽn mang tính hệ thống. Bài viết phân tích các thách thức mang tính cấu trúc đặt trong dài hạn của nền kinh tế Đức, đồng thời cho thấy triển vọng tăng trưởng phục hồi là có nhưng cần có sự đồng thuận cao trong hệ thống chính trị và xã hội.
Từ khóa: kinh tế, tái cấu trúc, thách thức, triển vọng, Đức
Abstract: The German economy is assessed to be facing serious and systemic structural challenges, including three major issues: the loss of its cheap energy base from Russia; the changing role of China from a strategic trading partner to a technological competitor; the decline in national competitiveness due to outdated infrastructure, slow digitalization, and persistently low investment. The weakening of the German economy is not a short-term cyclical phenomenon, but rather the result of systemic bottlenecks. The article analyzes the long-term structural challenges facing the German economy, while also showing that the prospect of growth recovery exists but requires strong consensus within the political and social systems.
Keywords: economy, restructuring, challenges, prospects, Germany
SO SÁNH MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP XANH CỦA VIỆT NAM VÀ CANADA GIAI ĐOẠN 2010-2024
Phạm Thị Hiếu
Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Tóm tắt: Trên cơ sở so sánh mô hình phát triển nông nghiệp xanh tại Việt Nam và Canada giai đoạn 2010-2024, bài viết đã cho thấy cả hai nước đều lồng ghép mục tiêu nông nghiệp xanh vào chiến lược phát triển, nhưng cách triển khai khác nhau. Việt Nam tái cơ cấu ngành theo hướng giá trị gia tăng cao hơn, áp dụng các mô hình canh tác thông minh giúp giảm ô nhiễm, tăng năng suất. Trong khi đó, Canada chú trọng giảm phát thải khí nhà kính từ nông nghiệp, thúc đẩy công nghệ cao và hỗ trợ nông dân áp dụng thực hành xanh. Như vậy, Việt Nam có thể tận dụng kinh nghiệm và công nghệ từ Canada, còn Canada có thể học hỏi các mô hình thích ứng của Việt Nam. Bên cạnh đó, bài viết cũng đưa ra hàm ý nhấn mạnh về vai trò của hợp tác quốc tế trong việc phát triển nông nghiệp xanh bền vững đối với Việt Nam.
Từ khóa: nông nghiệp xanh, phát triển bền vững, chính sách, Việt Nam, Canada
Abstract: Based on a comparison of green agricultural development models in Vietnam and Canada from 2010 to 2024, this article shows that both countries have integrated green agricultural goals into their development strategies, but the implementation methods are different. Vietnam has restructured its agricultural sector towards higher value-added products, adopting smart farming models that reduce pollution and increase productivity. Meanwhile, Canada focuses on reducing greenhouse gas emissions from agriculture, promoting high technology, and supporting farmers in adopting green practices. Thus, Vietnam can leverage experience and technology from Canada, while Canada can learn from Vietnam's adaptation models. In addition, the article also emphasizes the role of international cooperation in developing sustainable green agriculture in Vietnam.
Keywords: green agriculture, sustainable development, policy, Vietnam, Canada
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA ĐẮK LẮK SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG BỐI CẢNH THỰC THI EVFTA
Đinh Mạnh Tuấn
Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Trần Thị Thảo
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, Đại học Quốc gia TP.HCM
Tóm tắt: Sau hơn 5 năm từ khi Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) có hiệu lực và được triển khai, kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU có xu hướng tăng mạnh, một phần nhờ vào việc được hưởng lợi từ các mức thuế quan ưu đãi theo cam kết trong Hiệp định. Trong bối cảnh đó, hoạt động xuất khẩu nông sản của tỉnh Đắk Lắk cũng đạt được những kết quả tích cực, mặc dù có những biến động phức tạp của thị trường quốc tế. Bài viết phân tích thực trạng, đánh giá triển vọng xuất khẩu nông sản của Đắk Lắk sang thị trường EU khi thực hiện EVFTA, từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của tỉnh Đắk Lắk vào thị trường EU trong những năm tiếp theo.
Từ khoá: nông sản, Đắk Lắk, EU, xuất khẩu, EVFTA
Abstract: More than five years after the Free Trade Agreement between Vietnam and the European Union (EVFTA) came into effect and was implemented, Vietnam’s agricultural product exports to the EU market have shown a strong upward trend, partly due to the benefits from preferential tariff rates under the EVFTA. In this context, agricultural exports from DakLak province have also achieved positive results, despite the complex fluctuations of the international market. The article analyzes the current situation and assesses the prospects for agricultural exports from DakLak to the EU market under the EVFTA, and proposes several solutions to boost agricultural exports from Dak Lak province to the EU market in the coming years.
Keywords: agricultural products, DakLak, EU, export, EVFTA