image banner
VI | EN
Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ Số 2 (4) - 2026
Anh-tin-bai
Anh-tin-bai

--------------------------------------

ĐỔI MỚI MÔ HÌNH QUẢN TRỊ PHÁT TRIỂN TRONG KỶ NGUYÊN SỐ: ĐỘNG LỰC CHO MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG BỨT PHÁ CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030 VÀ TẦM NHÌN 2045

Nguyễn Cao Đức

Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ

Phí Hồng Minh

Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương

Tóm tắt: Trong bối cảnh thế kỷ XXI được định hình bởi các đặc tính VUCA và sự chuyển đổi số mạnh mẽ, các mô hình quản trị đơn tuyến truyền thống đang bộc lộ sự “lệch pha hệ thống” nghiêm trọng trước các thách thức an ninh phi truyền thống. Nghiên cứu này đề cao “Mô hình quản trị phát triển tích hợp đa tầng” dựa trên lý thuyết “Xếp lớp thể chế tối ưu”. Lấy hình tượng cơ thể sống làm ẩn dụ các chức năng then chốt, mô hình tích hợp bốn phân lớp quản trị phát triển biện chứng: (1) “Hệ xương sống” (Hành chính công truyền thống) kiến tạo sự ổn định và kỷ cương nền tảng; (2) “Hệ cơ bắp” (Quản lý công mới) thúc đẩy hiệu năng và sự tinh gọn thông qua công cụ thị trường; (3) “Hệ thần kinh” (Quản trị công mới) tối ưu hóa phân bổ nguồn lực qua cơ chế kết nối mạng lưới; và (4) “Bộ não” (Nhà nước kiến tạo phát triển số) đóng vai trò dẫn dắt chiến lược, sử dụng dữ liệu và công nghệ để định hình thị trường. Phân tích trường hợp Việt Nam cho thấy, quốc gia đang chuyển dịch thành công từ việc củng cố nền tảng thể chế và tinh gọn bộ máy sang giai đoạn kết nối và kiến tạo đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số. Nghiên cứu khẳng định rằng, việc vận hành đồng bộ bốn phân lớp này sẽ tạo ra trạng thái “Cân bằng động”, giúp Việt Nam giải quyết “nghịch lý quản trị phát triển” giữa yêu cầu ổn định và nhu cầu bứt phá. Đây là chìa khóa để nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, qua đó góp phần chuyển đổi trọng tâm của mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, nhằm hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Từ khóa: Quản trị phát triển tích hợp đa tầng, xếp lớp thể chế tối ưu, Nhà nước kiến tạo phát triển số, VUCA, hiệu quả, năng suất tổng hợp (TFP), đổi mới sáng tạo, tăng trưởng và phát triển, Việt Nam 2030 và tầm nhìn 2045.

Abstract: In the context of a twenty-first century shaped by VUCA (Volatility, Uncertainty, Complexity, and Ambiguity) conditions and rapid digital transformation, traditional linear, siloed governance models are revealing serious systemic misalignment in the face of non-traditional security challenges. This study advances an integrated multi-layer development governance model grounded in the theory of Optimal Institutional Layering. Drawing on the metaphor of a living organism to represent key functional roles, the model integrates four dialectical governance sub-layers: (1) the Skeletal System (Traditional Public Administration), which establishes foundational stability and rule-based discipline; (2) the Muscular System (New Public Management), which drives efficiency and organizational streamlining through market-based instruments; (3) the Nervous System (New Public Governance), which optimizes resource allocation through networked coordination mechanisms; and (4) the Brain (the Digital Developmental State), which assumes strategic leadership by leveraging data and technology to shape market trajectories. A case analysis of Vietnam reveals that the country is successfully transitioning from consolidating its institutional foundations and streamlining its administrative apparatus toward a phase of connectivity and innovation-driven development in the digital era. The study argues that the synchronized operation of these four sub-layers will generate a state of dynamic equilibrium, enabling Vietnam to resolve the governance paradox between the imperatives of stability and the demands of transformative growth. This integrated approach constitutes the critical lever for enhancing total factor productivity (TFP) and fostering systemic innovation. In so doing, it facilitates a structural reorientation of Vietnam's growth model from extensive to intensive development, ultimately advancing the nation's aspiration to become a high-income developed economy by 2045.

Keywords: Integrated multi-layer development governance, Optimal Institutional Layering, Digital Developmental State, VUCA, efficiency, total factor productivity (TFP), innovation, growth and development, Vietnam 2030 and Vision 2045.

 

CHỈ THỊ THẨM ĐỊNH TÍNH BỀN VỮNG DOANH NGHIỆP CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU ĐỐI VỚI CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY VIỆT NAM: THÁCH THỨC VÀ LỘ TRÌNH THÍCH ỨNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP GIA CÔNG

Trương Hồng Vân, Phan Bạch Tuyết, Nguyễn Linh Ngọc, Nguyễn Anh Đức và Nguyễn Thị Bình

Trường Đại học Ngoại thương

Tóm tắt: Trong bối cảnh Chỉ thị Thẩm định tính bền vững doanh nghiệp (CSDDD) của Liên minh châu Âu không chỉ là quy định nội khối, mà còn xác lập một tiêu chuẩn mới cho chuỗi giá trị toàn cầu, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam - đặc biệt nhóm gia công (CMT), đang đối mặt với những thách thức mang tính sống còn. Bằng phương pháp nghiên cứu tại bàn dựa trên nguồn tài liệu thứ cấp hệ thống, từ các báo cáo chiến lược của VCCI và các tổ chức quốc tế, kết hợp với phân tích dữ liệu hành vi trên các nền tảng số, bài viết đánh giá thực trạng nhận thức và sẵn sàng của nhóm doanh nghiệp trước các yêu cầu về môi trường và trách nhiệm xã hội. Kết quả cho thấy, phần lớn doanh nghiệp vẫn ở trạng thái bị động, hạn chế về năng lực quản trị dữ liệu và đối mặt với sự bất cân xứng của người mua quốc tế. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi “kép” (số và xanh) nhằm giúp doanh nghiệp nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. 

Từ khoá: Chỉ thị Thẩm định tính bền vững doanh nghiệp, CSDDD, doanh nghiệp gia công (CMT), chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.

Abstract: As the European Union’s Corporate Sustainability Due Diligence Directive (CSDDD) evolves beyond an internal regulation into a new global standard for value chain governance, Vietnamese textile and garment enterprises - particularly those operating under the Cut - Make - Trim (CMT) model, face increasing sustainability pressures. Using a desk-based research approach grounded in systematically reviewed secondary sources, including strategic reports from the Vietnam Chamber of Commerce and Industry (VCCI) and international organizations, combined with behavioral data analysis from digital platforms, this study examines the level of awareness and readiness of these enterprises in responding to environmental and social responsibility requirements. The findings indicate that most firms remain reactive, constrained by limited data governance capacity and asymmetric relationships with international buyers. The study proposes policy and managerial implications to promote a dual transformation, digital and green, aimed at supporting firms in upgrading their positions within global value chains.

Keywords: Corporate Sustainability Due Diligence Directive, CSDDD, CMT manufacturers, Global textile and garment value chain.

 

NHÌN LẠI CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN TRONG NĂM ĐẦU TIÊN NHIỆM KỲ HAI CỦA TỔNG THỐNG DONALD TRUMP

Nguyễn Văn Lịch

Đại học Công nghệ Giao thông vận tải

Hoàng Diệu Linh

Học viện Ngoại giao

Tóm tắt: Tháng 4 năm 2025, ngay sau khi nhậm chức nhiệm kỳ hai, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã công bố chính sách thuế quan mới (chính sách thuế quan 2.0) - một sáng kiến thương mại mang tính tiếp nối và tăng cường từ nhiệm kỳ đầu, với mục tiêu ưu tiên tuyệt đối cho sản xuất nội địa, giảm thâm hụt thương mại và gia tăng sức ép đàm phán với các đối tác. Chính sách này nhanh chóng định hình lại tình hình thương mại thế giới và tạo ra những tác động lan tỏa mạnh mẽ đến các nền kinh tế đối tác.

Từ khóa: Chính sách thuế quan, tác động, Mỹ, Việt Nam.

Abstract: In April 2025, shortly after beginning his second term, President Donald Trump announced the 2.0 tariff policy - a trade initiative building upon and strengthening his first terms approach. The policy’s primary goals were to prioritize domestic manufacturing, reduce the trade deficit, and increase negotiation pressure on global partners. This policy quickly reshaped the global trade landscape, creating far-reaching impacts on partner economies.

Keywords: Tariff policy, impacts, USA, Vietnam.

TỪ “TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC” ĐẾN QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC PHÁP - ẤN ĐỘ:

MỘT SỐ PHÂN TÍCH SO SÁNH VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG

Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Thị Phương Dung

Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ

Tóm tắt: Trong quan hệ quốc tế hiện nay, hiếm có hai quốc gia nào có sự khác biệt về trình độ phát triển, lịch sử, văn hóa chiến lược và khu vực địa lý lại có khá nhiều sự tương đồng về tư duy chiến lược như Pháp và Ấn Độ. Theo đó, cả hai nước đều có chung quan điểm về việc duy trì quyền tự chủ chiến lược, nghĩa là khả năng đưa ra quyết định độc lập khỏi áp lực bên ngoài, đặc biệt là từ các cường quốc, trong các lĩnh vực chính sách đối ngoại. Mặc dù, “tự chủ chiến lược” trong quan điểm của Pháp và Ấn Độ phản ánh hai sắc thái của hai nền văn hóa chiến lược phương Tây và phương Đông nhưng rõ ràng giữa hai nước có nhiều điểm tương đồng và hội tụ. Phương châm “đồng minh nhưng không liên kết” của Pháp khá trùng khớp với quan điểm “xây dựng các quan hệ đối tác, không xây dựng liên minh và quyền có lập trường riêng” của Ấn Độ. Sự tương đồng này chính là nền tảng quan trọng cho sự phát triển quan hệ đối tác chiến lược Pháp - Ấn Độ trong nhiều thập niên qua. Đồng thời, sự khác biệt trong quá trình triển khai nguyên tắc tự chủ chiến lược khiến cặp quan hệ Pháp - Ấn Độ được xem là mô hình phản ánh sự hội tụ của hệ giá trị Đông - Tây dựa trên khuôn khổ “đối tác chiến lược” và “đối tác tự chủ”.

Từ khóa: Tự chủ chiến lược, đối tác chiến lược, văn hóa chiến lược, Ấn Độ, Pháp.

Abstract: In contemporary international relations, few countries with such varied development levels, histories, strategic cultures, and geographical regions share as much strategic thinking as France and India. Both countries share the view of maintaining strategic autonomy, which refers to the ability to make independent decisions in foreign policy without external pressure, particularly from major powers. While the concept of “strategic autonomy” is interpreted differently in the Western and Eastern contexts, France and India have many similarities and points of convergence. France's motto of “ally but not aligned”, closely aligns with ndia's perspective of “building partnerships, not alliances, and the right to take independent stances.” This shared approach a crucial foundation for the development of the France - India Strategic Partnership over the past several decades.  However, differences in how each country implements the principle of strategic autonomy have resulted in the Franco-Indian relationship being viewed as a model that reflects the convergence of Eastern and Western values. This relationship is framed around concepts of “strategic partnership” and “autonomous partnership”.

Keywords: Strategic autonomy, strategic partnership, strategic culture, India, France.

 

CẠNH TRANH MỸ - TRUNG QUỐC VỀ TÀI NGUYÊN ĐẤT HIẾM: CƠ HỘI VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM

Đỗ Ngọc Gia Linh, Hoàng Ngọc An, Nguyễn Việt Anh, Nguyễn Thuỳ Dương và Trương Vũ Phương Uyên

Học viện Ngoại giao

Tóm tắt: Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc ngày càng gay gắt, đất hiếm đã nổi lên như một mặt trận cạnh tranh quan trọng, định hình lại cán cân quyền lực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Bài viết phân tích vai trò của đất hiếm trong cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc thông qua việc làm rõ sự thống trị của Trung Quốc trong chuỗi giá trị đất hiếm, các nỗ lực của Mỹ nhằm giảm phụ thuộc và tái cấu trúc chuỗi cung ứng, cũng như những tác động địa chính trị phát sinh từ quá trình này. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá tiềm năng tham gia của Việt Nam vào chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu, đồng thời chỉ ra các hạn chế về công nghệ, hạ tầng và quản trị. Thông qua phân tích về khả năng thúc đẩy, đồng thời hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ cùng các đối tác của Mỹ, bài viết cho rằng, Việt Nam vừa đứng trước cơ hội nâng cao vị thế kinh tế và công nghệ, vừa đối mặt với rủi ro phụ thuộc và sức ép địa chính trị. Từ đó, nhóm tác giả khuyến nghị Việt Nam cần có cách tiếp cận cân bằng và linh hoạt trong lĩnh vực đất hiếm để thúc đẩy hợp tác quốc tế, phát triển năng lực khai thác và chế biến trong nước, qua đó tối đa hóa lợi ích, đồng thời duy trì tự chủ chiến lược.

Từ khóa: Đất hiếm, khoáng sản chiến lược, chuỗi cung ứng, cạnh tranh Mỹ - Trung.

Abstract: Amid increasingly intense U.S. - China strategic competition, rare earth elements have emerged as an important arena of competition, reshaping the balance of power and the structure of global supply chains. This article analyzes the role of rare earths in U.S. - China competition by examining China’s dominance in the rare earth value chain, the United States’ efforts to reduce dependence and restructure supply chains, as well as the geopolitical implications arising from these developments. On this basis, the study evaluates Vietnam’s potential participation in global rare earth supply chains while identifying existing constraints related to technology, infrastructure, and governance capacity. Through a comparative analysis of cooperation options with China and with the United States and its partners, the article argues that Vietnam faces both opportunities to enhance its economic and technological position and risks of dependency and geopolitical pressure. The article therefore proposes Vietnam should pursue a balanced and flexible approach to promote international cooperation, develop domestic processing capacity, and move toward higher value-added segments of the supply chain, thereby maximizing development benefits while maintaining strategic autonomy.

Keywords: Rare earth element (REE), critical mineral, supply chains, U.S. - China rivalry

 

PHÁT HUY VAI TRÒ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU VIỆT NAM ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN

Nguyễn Bình Thoan

Học viện Kỹ thuật Quân sự

Tóm tắt: Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài viết phân tích vai trò của sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong chi bộ đối với công tác xây dựng Đảng trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các tài liệu lý luận của Đảng, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá thực tiễn, bài viết làm rõ thực trạng tổ chức sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong chi bộ hiện nay, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu. Từ đó, bài viết đưa ra một số hàm ý nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong chi bộ, góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo sự nghiệp đổi mới và phát triển bền vững của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Xây dựng Đảng, tự phê bình và phê bình, đổi mới và phát triển.

Abstract: In the context of Vietnam’s ongoing reform and development process, Party building and rectification play a crucial role in strengthening the leadership capacity and combativeness of the Communist Party of Vietnam (CPV). This article analyzes the role of self-criticism and criticism within Party cells in Party building work in the context of Vietnam’s accelerated reform and international integration. Based on the review of CPV’s theoretical documents and employing qualitative research methods such as analysis, synthesis and practical assessment, the study examines the current situation of self-criticism and criticism practices within Party cells, identifying key limitations and underlying causes. The paper then proposes several solutions to improve the quality of self-criticism and criticism activities in Party cells, thereby contributing to building a clean and strong Party organization that meets the requirements of effectively leading Vietnam’s sustainable reform and development in the new stage.

Keywords: Party building, self-criticism and criticism, reform and development.


 
 

 

*T

Thuỳ Dương
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1