Mục Lục TV.pdfMục Lục TA.pdf
ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC XUNG ĐỘT MỸ,
ISRAEL VỚI IRAN ĐẾN AN NINH CHUỖI CUNG ỨNG
VÀ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Cao Đức
Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Phí Hồng Minh
Viện
Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương
Tóm tắt: Cuộc
xung đột Mỹ, Israel với Iran kể từ ngày 28/02/2026 đã kích hoạt cú sốc cung hệ
thống, tác động phi tuyến lên an ninh chuỗi cung ứng Việt Nam qua bốn kênh hội
tụ: năng lượng, nguyên liệu chiến lược, logistics và tài chính - tỷ giá. Phong
tỏa eo biển Hormuz làm gián đoạn các nguyên liệu thiết yếu không có khả năng
thay thế trong sản xuất công nghệ cao. Các kênh cú sốc khuếch đại lẫn nhau theo
cơ chế phản hồi phi tuyến, xói mòn ngưỡng chống chịu vĩ mô và kích hoạt phụ thuộc
lộ trình trong các chuỗi cung ứng cốt lõi. Mô hình tăng trưởng dựa vào gia công
lắp ráp định hướng FDI đã chạm ngưỡng chịu đựng khi các công cụ điều tiết vĩ mô
suy giảm hiệu lực trước áp lực cung ngoại sinh và cú sốc thể chế. Hệ quả là trạng
thái mất cân đối vĩ mô gia tăng và tính dễ tổn thương cấu trúc bộc lộ rõ nét. Để
tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững đòi hỏi chuyển dịch sang mô hình tự chủ
nội sinh, triển khai bốn trụ cột: củng cố vùng đệm thanh khoản và phòng vệ thể
chế; phát triển dự trữ năng lượng chiến lược; nội địa hóa chuỗi giá trị bán dẫn
và hạ tầng trí tuệ nhân tạo; hoàn thiện chuỗi cung ứng nông nghiệp tuần hoàn nhằm
giảm phụ thuộc đầu vào và nâng cao chống chịu hệ thống.
Từ
khóa: Xung
đột Mỹ, Israel với Iran, eo biển Hormuz, an ninh chuỗi cung ứng, ổn định kinh tế
vĩ mô Việt Nam.
Abstract: The US, Israel with Iran conflict has triggered a systemic supply shock
that propagates nonlinearly through Vietnam’s supply chain security via four
convergent channels: energy, strategic raw materials, logistics, and
financial-exchange rate dynamics. The blockade of the Strait of Hormuz has
disrupted critical inputs lacking viable substitutes in high-technology
production. These shock channels interact through nonlinear feedback
mechanisms, eroding macroeconomic resilience thresholds and activating path dependency
across core supply chains. The growth model predicated on FDI-oriented assembly
manufacturing has reached its structural tolerance limit as macro-regulatory
instruments lose effectiveness under exogenous supply pressures and
institutional shocks. Consequently, macroeconomic imbalances intensify and
structural vulnerabilities become increasingly pronounced. Sustaining rapid
growth and long-term development requires a fundamental transition toward an
endogenous autonomy model, anchored in four strategic pillars: strengthening
sovereign liquidity buffers and institutional defense capacity; developing
strategic energy reserves; localizing semiconductor value chains and sovereign
artificial intelligence infrastructure; and consolidating circular agricultural
supply chains to reduce input dependency and enhance systemic resilience.
Keywords: US, Israel with Iran
conflict, Strait of Hormuz, supply chain security, Vietnam’s macroeconomic
stability.
CẠNH TRANH MỸ - TRUNG QUỐC TRONG
THÚC ĐẨY CHUẨN MỰC QUẢN TRỊ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TOÀN CẦU
Hà Anh Tuấn, Hồ Thị Phương Anh
Học viện Ngoại giao
Tóm tắt: Hiện nay, Mỹ và Trung Quốc không chỉ cạnh tranh trong việc phát triển
và đổi mới trí tuệ nhân tạo (AI), mà còn cạnh tranh trong việc kiến tạo những
chuẩn mực trụ cột của nền quản trị AI toàn cầu. Xuất phát từ nhu cầu kiến tạo
môi trường thuận lợi cho việc phát triển AI, đảm bảo an ninh và xây dựng vai
trò lãnh đạo thế giới trong quản trị AI toàn cầu, cả Mỹ và Trung Quốc đã xây dựng
hai mô hình với hệ chuẩn mực khác biệt, thậm chí đối lập nhau. Đồng thời, Mỹ và
Trung Quốc đã thực hiện chính sách xuất khẩu các chuẩn mực cạnh tranh với đối
thủ thông qua các cơ chế mà hai nước đang là thành viên, cũng như các cơ chế mới
mang tính loại trừ do hai nước thiết lập, đặc biệt là thông qua các dự án đầu
tư về AI tại các nước thứ ba và các sản phẩm AI của hai nước. Trước bối cảnh cạnh
tranh giữa hai nước lớn, các nước vừa và nhỏ, trong đó có Việt Nam, phải đối mặt
với cả thuận lợi lẫn thách thức. Bài viết sẽ đưa ra một số hàm ý đối với Việt
Nam trong quá trình này.
Từ
khóa: Cạnh
tranh Mỹ - Trung Quốc, trí tuệ nhân tạo, quản trị toàn cầu, chuẩn mực.
Abstract: Currently, the United States and China are competing not only in the
development and innovation ofArtificial Intelligence(AI) but also in
establishing the cornerstone norms of global AI governance. Driven by the need
to create a favorable environment for AI development, ensure security, and
build global leadership in AI governance, both the US and China have developed
two distinct, even opposing, normative models of governance. Simultaneously,
the US and China have pursued a policy of exporting these norms to compete with
rivals through mechanisms they are members of, as well as new, exclusionary mechanisms
established by both countries, and especially through AI investment projects in
third countries and their AI products. Against this backdrop of competition
between the two major powers, middle and small countries, including Vietnam,
face both opportunities and challenges. This article will offer some
implications for Vietnam in this process.
Keywords: US - China competition,
artificial intelligence, global governance, norms.
QUẢN TRỊ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CÓ
TRÁCH NHIỆM: SO SÁNH CÁC MÔ HÌNH QUẢN TRỊ TẠI LIÊN MINH CHÂU ÂU, HOA KỲ, TRUNG
QUỐC VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Phạm Thị Hiếu
Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành hạ tầng cốt lõi của kinh tế số và
đặt ra những thách thức mới cho quản trị nhà nước. Các vấn đề về trách nhiệm giải
trình, minh bạch ngày càng cấp thiết. Tiếp cận từ góc độ quản trị AI có trách
nhiệm, bài viết nhấn mạnh các nguyên tắc cốt lõi gồm minh bạch, trách nhiệm giải
trình và công bằng trong thiết kế và vận hành hệ thống AI.Nghiên cứu phân tích
các mô hình quản trị AI tiêu biểu tại EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc, qua đó,làm rõ
sự khác biệt về triết lý quản trị trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu.
Trên cơ sở các khung lý thuyết về quản trị thuật toán, quản trị rủi ro thích ứng
và chủ quyền số, bài viết lập luận rằng,không tồn tại một mô hình quản trị AI
có trách nhiệm mang tính phổ quát; ngược lại, mỗi quốc gia lựa chọn cách tiếp cận
phản ánh cấu trúc thể chế và ưu tiên chính trị riêng.Từ việc nhận diện ba khoảng
trống trong quản trị AI tại Việt Nam gồm trách nhiệm pháp lý chưa rõ ràng, phụ
thuộc công nghệ và hạn chế về hạ tầng dữ liệu,bài viếtđề xuất một khung quản
trị AI có trách nhiệm theo hướng linh hoạt, đa tầng, phù hợp với bối cảnh quốc
gia.
Từ
khóa: Trí tuệ nhân tạo, quản trị AI có
trách nhiệm, quản trị thuật toán, chủ quyền số, Việt Nam.
Abstract: Artificial
intelligence (AI) is increasingly becoming a foundational infrastructure of the
digital economy, raising new challenges for public governance. Issues of
accountability, transparency are growing more urgent. From the perspective of
responsible AI governance, this article emphasizes core principles, including
transparency, accountability, and fairness in the design and operation of AI
systems. The study analyzes representative AI governance models in the European
Union, the United States, and China, thereby highlighting differences in
governance philosophies in the context of global technological competition.
Drawing on theoretical frameworks of algorithmic governance, adaptive risk
governance, and digital sovereignty, the article argues that there is no
universally applicable model of responsible AI governance. Instead, each
country adopts an approach that reflects its institutional structure and
political priorities. By identifying three structural gaps in AI governance in
Vietnam - namely unclear legal accountability, technological dependence, and limitations
in data infrastructure - the paper proposes a flexible, multi-layered framework
for responsible AI governance tailored to the national context.
Keywords: Artificial intelligence,
responsible AI governance, algorithmic governance, digital sovereignty,
Vietnam.
TRÁCH
NHIỆM CỦA SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ:
KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Hà Công Anh Bảo, Phạm Thị Ngọc và
Nguyễn Ngọc Mai
Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại
thương
Tóm tắt: Sự phát triển của thương mại điện tử kéo theo gia tăng các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số, đặt ra yêu cầu xác định trách nhiệm
pháp lý của các sàn thương mại điện tử. Bài viết lập luận rằng, pháp luật Việt
Nam đang chuyển từ mô hình miễn trừ trách nhiệm sang mô hình trách nhiệm có điều
kiện, nhưng vẫn thiếu tiêu chí rõ ràng, đặc biệt đối với chuẩn “biết hoặc phải
biết”. Thông qua phân tích lý luận, đánh giá pháp luật Việt Nam và so sánh với
Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, bài viết chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong
thực thi. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý và
nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử.
Từ
khóa: Thương
mại điện tử, sàn giao dịch thương mại điện tử, quyền sở hữu trí tuệ, trách nhiệm
trung gian.
Abstract: The rapid growth of e-commerce has intensified intellectual property
infringements in the digital environment, raising critical questions about
platform liability. This article argues that Vietnam’s legal framework is
transitioning from a safe harbor regime to a conditional liability model but
lacks clear criteria, particularly regarding the standard of “actual or
constructive knowledge”. By analyzing theoretical foundations, examining
Vietnam’s regulations, and comparing them with the United States and the
European Union, the paper identifies key legal gaps in enforcement. It then
proposes recommendations to improve the legal framework and enhance
intellectual property protection in Vietnam’s e-commerce sector.
Keywords: E-commerce,
e-commerce platforms, intellectual property rights, Intermediary liability.
VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC TRONG PHONG
TRÀO CHỐNG PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC TẠI MỸ (1954-1968)
Hoàng Đăng Quảng
Trường Đại học Sư phạm - Đại học
Huế
Thái Thị Mỹ Dung
Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh
Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của giáo dục trong phong trào chống phân biệt
chủng tộc tại Mỹ (giai đoạn 1954-1968), nhấn mạnh giáo dục vừa là mục tiêu đấu
tranh vừa là công cụ phát triển xã hội. Từ phán quyết Brown v. Board of
Education (1954) đến các sự kiện như Little Rock Nine, phong trào đã khẳng định
quyền được học tập công bằng của người Mỹ gốc Phi, đặt nền tảng phá bỏ hệ thống
Jim Crow. Giáo dục giúp hình thành thế hệ lãnh đạo có tri thức, kiên định, góp
phần thay đổi nhận thức xã hội về bất công chủng tộc, đồng thời xây dựng nội lực
cộng đồng da màu để phát triển bền vững. Dù gặp nhiều trở ngại trong quá trình
thực thi, giáo dục vẫn chứng minh là công cụ bất bạo động hiệu quả, kết hợp với
đấu tranh pháp lý để thúc đẩy cải cách xã hội. Bài học quan trọng rút ra là,giáo
dục cần được đặt đúng vị trí trong các phong trào đấu tranh vì công bằng, đóng
vai trò xây dựng nhận thức, phát triển con người và định hình xã hội dân chủ,
công bằng, bền vững, không chỉ tại Mỹ,mà còn ở các quốc gia đang phát triển hiện
nay.
Từ
khoá: Giáo
dục, người Mỹ gốc Phi, phân biệt chủng tộc.
Abstract: This article analyzes the role of education in the Civil Rights
Movement in the United States (1954-1968), emphasizing that education
functioned both as a central objective of struggle and as an instrument of
social transformation. From the landmark Brown v. Board of Education decision
in 1954 to events such as the Little Rock Nine crisis, the movement affirmed
the right of African Americans to equal educational opportunities and laid the
foundation for dismantling the Jim Crow system. Education contributed to the
formation of a knowledgeable and determined generation of leaders who helped
reshape public awareness regarding racial injustice, while also strengthening
the internal capacity of Black communities for sustainable development. Despite
numerous obstacles in implementation, education proved to be an effective
nonviolent instrument that, together with legal activism, promoted social
reform. An important lesson drawn from this historical experience is that
education must be properly positioned within movements for justice, serving as
a means to raise awareness, develop human potential, and shape a democratic,
equitable, and sustainable society - not only in the United States but also in
developing countries today.
Keywords: Education, African Americans,
racial discrimination.
NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Nguyễn Ngọc Mạnh
Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Tóm tắt: Nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của
Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được hình thành và phát triển
trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực
tiễn đổi mới đất nước. Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu chưa đầy
đủ về bản chất, đặc trưng và cơ chế vận hành của mô hình này. Trên cơ sở làm rõ
lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chỉ ra bản chất
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bài viết đưa
ra một số định hướng nhằm nâng cao nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Từ
khóa: Kinh
tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới, Việt Nam.
Abstract: The socialist-oriented market economy is the general economic model of
Vietnam during the transition period to socialism. It was formed and developed
on the basis of creatively applying Marxism-Leninism, Ho Chi Minh Thought, and
the practical experience of national reform. However, there are still many
misunderstandings about the nature, characteristics, and operating mechanisms
of this model.Based on clarifying the theory of the socialist-oriented market
economy and identifying the nature of the socialist-oriented market economy in
Vietnam, this article offers some directions to enhance understanding of the
socialist-oriented market economy in Vietnam today.
Keywords: Market economy, socialist
orientation, reform, Vietnam